Feeds:
Bài viết
Phản hồi

1. MỤC ĐÍCH :

Quy định cách thức quản lý các văn bản đi, đến, nội bộ và hồ sơ, tài liệu lưu trữ theo một phương pháp thống nhất, khoa học.

2. PHẠM VI ÁP DỤNG:

Trong các hoạt động của Sở Xây dựng.

3. TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 04 năm 2004 – Nghị định của Chính phủ về công tác văn thư.

Nghị định 111/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 04 năm 2004-Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia.

Thông tư 55/2005/TTLT-BVN-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2006 -Thông tư liên tịch hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.  

5. NỘI DUNG:

5.1 Những quy định chung:

Các yêu cầu chung trong quản lý công tác Văn thư lưu trữ:

– Đảm bảo tính thống nhất và tuân theo một quy trình chặt chẽ từ các khâu: Tiếp nhận,  phân loại, chuyển giao, soạn thảo,  trình ký,  in ấn,  phát hành và nộp lưu .

– Đảm bảo tính kịp thời, chính xác, bảo mật và an toàn.

– Đạt chất lượng và hiệu quả cao.

5.2 Giải quyết văn bản đến:

Lưu đồ Quy trình quản lý văn bản đến: (đang cập nhật)

5.2.1 Tiếp nhận, xử lý văn bản đến.

– Văn bản đến từ bất kỳ nguồn nào đều phải được tập trung tại văn thư cơ quan để làm thủ tục tiếp nhận, đăng ký. Những văn bản đến không được đăng ký tại văn thư , các đơn vị cá nhân không có trách nhiệm giải quyết. Những văn bản chuyển đến cơ quan không đúng cách thức, văn thư trả lại nơi gửi.

– Văn bản đến phải được kịp thời chuyển đến Giám đốc (hoặc phó Giám đốc thường trực khi có ủy quyền) trong ngày để xử lý, phân việc.

– Nếu Văn bản mật, khẩn, có nội dung quan trọng, cấp bách thì văn thư phải chuyển ngay đến Giám đốc (hoặc PGĐ thường trực nếu Giám đốc đi vắng) trong thời gian ngắn nhất.

5.2.2 Phân phối văn bản.

– Giám đốc (hoặc Phó Giám đốc thường trực nếu Giám đốc đi vắng) là người trực tiếp bút phê phân phối văn bản đến cho phòng ban, cá nhân có trách nhiệm chính để giải quyết.

– Văn thư nhận văn bản đến đã được xử lý giao việc từ Giám đốc (hoặc Phó giám đốc thường trực nếu Giám đốc đi vắng), chuyển đến bộ phận phô tô để nhân bản với số lượng theo giao việc của Lãnh đạo.

– Sau khi nhận văn bản từ bộ phận phô tô, văn thư vào sổ và chuyển cho các phòng ban, cá nhân có liên quan. Đơn vị, phòng ban, cá nhân chủ trì giải quyết công việc ký nhận văn bản tại sổ của văn thư.

– Trường hợp văn thư chuyển nhầm văn bản hoặc không đúng người giải quyết thì người nhận văn bản chuyển trả lại văn thư để chuyển đúng bộ phận giải quyết.

5.2.3. Giải quyết và theo dõi đôn đốc giải quyết văn bản đến.

– Giám đốc (hoặc Phó giám đốc thường trực nếu Giám đốc đi vắng) có trách nhiệm chỉ đạo giải quyết kịp thời văn bản đến. Phó Giám đốc được giao chỉ đạo giải quyết những văn bản đến theo sự ủy nhiệm của Giám đốc và những văn bản đến thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

– Căn cứ nội dung văn bản đến, và chỉ đạo của Lãnh đạo, phòng hoặc cá nhân có trách nhiệm chủ động giải quyết văn bản đến theo đúng thời hạn quy định.

– Người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm cập nhật, xem xét toàn bộ văn bản đến và báo cáo về những văn bản quan trọng, khẩn cấp; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết văn bản đến.

5.3. Giải quyết văn bản đi

    Lưu đồ quy trình quản lý văn bản đi (đang cập nhật)

5.3.1. Trình tự giải quyết văn bản đi 

Tất cả văn bản do cơ quan  phát hành ra ngoài gọi là “ Văn bản đi”. 

– Phòng, ban, cá nhân soạn thảo văn bản phải đảm bảo đúng thể thức văn bản theo quy định của Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ban hành ngày 06/5/2005  “Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản”, khi trình ký phải có phiếu trình ký theo mẫu, kèm theo các tài liệu liên quan đến văn bản trình ký (nếu có).

 – Trưởng phòng có trách nhiệm đọc soát về nội dung, kiểm tra độ mật / khẩn (nếu có), kiểm tra câu chữ,  số lượng bản, địa chỉ gửi…ký nháy trước khi trình ký.

– Lãnh đạo căn cứ theo thẩm quyền, kiểm tra nội dung và hình thức văn bản để ký ban hành văn bản.

– Sau khi văn bản có chữ ký thẩm quyền, bộ phận soạn thảo làm thủ tục pho to, đăng ký văn bản đi tại văn thư cơ quan để đóng dấu, phát hành, chuyển và lưu trữ văn bản theo quy định.

– Văn thư có trách nhiệm kiểm tra lần cuối về thể thức, thẩm quyền trước khi đóng dấu và phát hành văn bản. Nếu văn bản không đúng với quy định  của Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ban hành ngày 06/5/2005, Văn thư không đóng dấu phát hành, chuyển trả lại bộ phận soạn thảo.

5.3.2. Chuyển phát văn bản đi

– Văn bản đi phải được hoàn thành thủ tục văn thư và chuyển phát ngay trong ngày văn bản đó được ký, chậm nhất là ngay trong ngày làm việc tiếp theo.

– Văn bản đi được chuyển cho nơi nhận bằng Fax hoặc chuyển qua mạng phải bảo đảm nguyên tắc thông tin kịp thời, chuẩn xác và bảo mật.

– Thông thường, văn bản chuyển đi theo đưêng Bưu điện. Trường hợp cần gấp, muốn nhận văn bản tại văn thư, phải ghi sổ, ký nhận (ghi rõ họ tên người nhận).

5.3.3. Lưu văn bản đi

– Mỗi văn bản đi phải lưu ít nhất 2 bản chính, một bản lưu tại văn thư cơ quan và một bản lưu trong hồ sơ hoặc bộ phận soạn thảo.

– Bản lưu văn bản đi tại văn thư cơ quan phải được sắp xếp theo thứ tự đăng ký.

5.3.4.      Văn bản nội bộ

– Văn bản nội bộ là một dạng văn bản đi (do nội bộ Sở ban hành), song chỉ đi trong nội bộ cơ quan. Đó là một loại văn bản điều hành gửi đến các phòng ban trong cơ quan.

– Giải quyết văn bản nội bộ cũng như giải quyết văn bản đi (đã trình bày ở trên).

– Các phòng, ban, cá nhân khi nhận được văn bản nội bộ cũng tiến hành giải quyết, xử lý tương tự như đối với văn bản đến khác.

– Văn bản nội bộ cũng lưu như mọi văn bản khác.

5.4 Giải quyết các văn bản “đến” và “đi” qua fax :

– Các văn bản chuyển đi nếu cần phải chuyển  qua fax thì các phòng, cá nhân có văn bản chuyển qua fax phải xin ý kiến của Giám đốc hoặc Phó Giám đốc phụ trách bộ phận.

– Nhân viên trực máy Fax không tự ý chuyển văn bản qua fax khi không có ý kiến của Giám đốc hoặc phó giám đốc phụ trách bộ phận.

– Nhân viên trực tiếp trực máy Fax của  Sở phải lập sổ nhận Fax đến và chuyển Fax đi, trong đó, lập bảng ghi rõ ngày, tháng, năm, đơn vị Fax (hoặc nhận Fax từ cơ quan nào), trích yếu nội dung Fax, chuyển cho đơn vị nào, người gửi Fax  (hoặc người nhận Fax) ký nhận.

5.5. Quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư :

   – Theo đúng Nghị định 110/2004/NĐ-CP Nghị định của chính phủ về công tác văn thư ban hành ngày 08/4/2004.

   – Quy định về đóng dấu: Văn thư đóng dấu văn bản phải thực hiện nghiêm theo Nghị định số 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ về công tác văn thư ban hành ngày 08 /4/2004. Trong điều 26 của Nghị định quy định:

 + Dấu đóng phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấu quy định.

 + Khi đóng dấu lên chữ ký thì dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.

+ Việc đóng dấu lên các phụ lục kèm theo văn bản chính do người ký văn bản quyết định và dấu được đóng lên trang đầu, trùm lên một phần tên cơ quan, tổ chức hoặc tên của phụ lục.

+  Việc đóng dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản, tài liệu chuyên ngành được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành.

5.6 Quản lý công tác lưu trữ:

Lưu đồ quản lý công tác lưu trữ

5.6.1. Mục đích của lưu trữ :  Tổ chức bảo quản an toàn và sử dụng khai thác có hiệu quả hệ thống tài liệu, hồ sơ của cơ quan.

5.6.2. Nguồn tài liệu, hồ sơ lưu trữ :

– Các văn bản, sổ ghi nhận công văn đi được lưu lại ở văn thư.

– Hồ sơ c«ng viÖc cña c¸c phßng, ban thuéc V¨n phßng Së.

– Tài liệu ảnh, băng, đĩa hình, ghi lại một số hoạt động tiêu biểu của Ngµnh để thông tin giới thiệu Ngµnh hoặc ghi nhận quá trình hình thành và phát triển của Ngµnh.

5.6.3. Quản lý công tác Lưu trữ:

a.  Công tác lưu trữ thực hiện theo Nghị định số 111/2004/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh lưu trữ Quốc gia Ban hành ngày 08/4/2006.

b. Trách nhiệm thực hiện công tác lưu trữ :

– Nhân viên được phân công nhiệm vụ làm công tác lưu trữ :

+ Xây dựng nội quy và cách thức giao nhận tài liệu, hồ sơ lưu trữ.

+ Hướng dẫn các phòng và cá nhân thực hiện công tác lưu trữ tại cơ quan.

+ Cập nhật tài liệu lưu trữ.

+ Phân loại chính xác và sắp xếp khoa học, bảo đảm tra tìm nhanh chóng, bảo quản thuận lợi.

+ Lập sổ theo dõi và xây dựng hệ thống công cụ tra tìm tài liệu lưu trữ một cách khoa học.

+ Thực hiện các qui định phân loại, sắp xếp, bảo quản khai thác tài liệu lưu trữ theo đúng các qui định hiện hành.

– Các phòng thuộc Sở có trách nhiệm Thực hiện công tác lưu trữ sắp xếp tài liệu hồ sơ theo đúng quy trình Quản lý sắp xếp tài liệu, hồ sơ và hướng dẫn của nhân viên lưu trữ.

c. Thời gian lưu trữ:

– Đối với những tài liệu, hồ sơ liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ, tiền lương, đào tạo: lưu tạm thời

– Đối với hồ sơ mua sắm trang thiết bị tài sản : lưu đến hết thời hạn khấu hao tài sản.

– Đối với hồ sơ về công tác thi đua khen thưởng : lưu tạm thời, hết năm chỉ cần lưu các báo cáo tổng hợp.

– Đối với hồ sơ địa điểm : Lưu tạm thời, đến hết thời hạn của Quyết định phê duyệt địa điểm.

– Đối với hồ sơ chứng chỉ quy hoạch : Lưu tạm thời

– Đối với hồ sơ quy hoạch, cấp phép xây dựng : Lưu lâu dài

– Đối với hồ sơ thiết kế cơ sở ; thiết kế kỹ thuật dự toán, tổng dự toán ; giám định chất lượng công trình xây dựng ; cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng: Lưu lâu dài

– Đối với hồ sơ xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo và các báo cáo công tác Thanh tra hàng tháng, quý, năm lưu lâu dài.

– Đối với hồ sơ cấp giấy phép thầu xây dựng cho nhà thầu nước ngoài và đăng ký văn phòng điều hành cho nhà thầu nước ngoài tham gia hoạt động xây dựng tại Quảng Ninh và các tài liệu về vật liệu xây dựng ; quản lý và phát triển nhà ở ; quản lý công sở, trụ sở làm việc : lưu lâu dài.

– Đối với các các tài liệu về quy hoạch phát triển chuyên ngành xây dựng Quảng Ninh ; tài liệu xây dựng đơn giá : Lưu lâu dài

– Đối với các báo cáo giao ban hàng tháng : Lưu tạm thời, hết năm lưu báo cáo tổng hợp cả năm.

– Đối với công văn đi của Sở : Lưu lâu dài

– Đối với tài liệu kế toán : Lưu theo Luật kế toán.

d. Định kỳ chuyển giao tài liệu,hồ sơ:

– Đối với tài liệu, hồ sơ bằng văn bản : sau 6 tháng (tuần đầu tháng 07,01 hàng năm) các phòng sẽ chuyển giao các tài liệu, hồ sơ đã kết thúc và được tập hợp đầy đủ, sắp xếp đúng quy định được hướng dẫn vào kho lưu trữ của cơ quan. Khi giao nhận phải có biên bản giao nhận với bộ phận lưu trữ cơ quan.

– Đối với dữ liệu trên máy vi tính, định kỳ 3 tháng (tuần đầu các tháng 04,07,10,01 hàng năm) các phòng thuộc Sở có trách nhiệm sao lưu dữ liệu sang thiết bị lưu trữ khác để gửi về kho lưu trữ của cơ quan. Khi giao nhận phải có biên bản giao nhận với bộ phận lưu trữ cơ quan.

Việc quản lý các công việc của văn phòng như quản lý tài liệu, quản lý các công văn, quản lý công việc, quản lý lịch công tác, quản lý các sự kiện là những bài toán đau đầu cho những công ty, doanh nghiệp hay các tập đoàn.

Khi tất cả các công việc đó đều phải thông qua giấy tờ, chạy đi chạy lại đó là trong trường hợp văn phòng công ty đặt cạnh nhau, còn trong trường hợp văn phòng công ty ở các nơi khác nhau thì sao?

Không những thế các công việc cực kỳ nhỏ như thông báo đưa ra một thông báo cho toàn bộ công ty cũng tốn khá nhiều giấy tờ, thời gian.

Làm việc từ xa …

OOffice ra đời nhằm thỏa mãn các nhu cầu đó.

Nổi bật trong Ooffice 2009 là một chức năng quản lý cho phép doanh nghiệp tự định nghĩa các quy trình thường được sử dụng trong nội bộ và tự động hóa xử lý các giai đoạn trong quy trình trực tuyến trên mạng, không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân, bộ phận nào cũng như không gian và thời gian.

“Phiên bản 2009 không chỉ là phần mềm quản lý đơn thuần mà là một giải pháp tự động hóa các quy trình quản lý và điều hành, nhằm giảm thiểu chi phí và thời gian trong các hoạt động thường ngày của doanh nghiệp”.

Ooffice là hệ thống phần mềm thuần Việt được xây dựng trên giao diện website dễ sử dụng, tích hợp hơn 20 chương trình quản lý và cộng tác với đầy đủ các tính năng (module) quản lý công văn, xử lý hồ sơ công việc, quản lý công việc, quy trình, lịch cơ quan, lịch công tác, tin tức nội bộ, nhân sự, văn bản – hồ sơ, tài liệu cá nhân, tin nhắn nội bộ, sản phẩm, hình ảnh, danh bạ cá nhân,  quản lý tài sản, …

Mỗi chức năng là một giải pháp đáp ứng một nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp, được thiết kế và tích hợp trong một kiến trúc tổng thể, chia sẻ và phân quyền chặt chẽ. Ooffice phù hợp cho cả những doanh nghiệp có quy mô lớn, nhiều phòng ban, chi nhánh. Nó hỗ trợ nhanh các yêu cầu cập nhật và truy cập thông tin, đảm bảo tính nhất quán của thông tin và kiểm soát thông tin – tránh trùng lặp và giảm thiểu việc sử dụng và quản lý giấy tờ, tài liệu, tiết kiệm thời gian lưu trữ, tìm kiếm và chi phí in ấn.

Hiện tại, giải pháp văn phòng này đã được triển khai ứng dụng cho 30 doanh nghiệp với trên 400 thành viên sử dụng hàng ngày.

Khronos Group, tổ chức phát triển và quản lý giao diện OpenGL, tuyên bố đang hợp tác với Mozilla để đưa đồ họa ba chiều vào thế giới web và một bản dự thảo cho chuẩn mới, mang tên WebGL, đã hình thành.

WebGL cho phép các lập trình viên JavaScript tận dụng card video để xử lý đồ họa ba chiều. Khronos đang tập hợp những đánh giá của các chuyên gia phát triển web để có thể sớm hoàn tất các thông số “không đơn giản chỉ là dự thảo vào quý I/2010”.

Video giới thiệu WebGL

Internet Explorer hiện vẫn là trình duyệt được sử dụng nhiều nhất trên thị trường. Tuy nhiên, bốn đối thủ chính là Mozilla Firefox, Apple Safari, Google Chrome và Opera cũng đang cạnh tranh gay gắt và công nghệ ba chiều là một trong những mục tiêu mà các trình duyệt này hướng tới.

Hỗ trợ 3D trên web sẽ giúp nâng cao giao diện người dùng của các ứng dụng web đặc biệt là game. Tuy vậy, chưa thể xác định thời điểm công nghệ này có mặt trên máy tính người dùng bởi sau khi WebGL được phê chuẩn, nó phải được tích hợp vào trình duyệt và giới lập trình viên cũng phải học cách hỗ trợ công nghệ.

Google cũng đang xây dựng dự án O3D hoạt động như một plug-in tích hợp trong Chrome.

LVTX cần văn hóa trách nhiệm

LVTX hiểu nôm na là thực hiện công việc của cơ quan (CQ) ở nhà hay ở một nơi làm việc khác không phải ở công sở. Internet phát triển, người ta có thể giao tiếp từ xa mọi lúc, mọi nơi một cách nhanh chóng, có thể tổ chức cùng làm một công việc mà những người tham gia không nhất thiết phải tụ lại một nơi.

LVTX đang gặp một trở ngại là người đứng đầu bộ máy quá quen với phong cách quản lý trực diện, kiểm tra hàng ngày sự có mặt của nhân viên (NV), tổ chức chấm công, quản lý theo ngày công chứ không phải theo kết quả công việc. Một trở ngại khác là người lao động quá quen với tâm lý làm việc tập thể, bàn bạc trực tiếp…

Điều quan trọng hơn cả là dù làm việc ở đâu, muốn hiệu quả người lao động phải có văn hóa trách nhiệm, văn hoá hợp tác, tin cậy lẫn nhau. Thực tế không ít tổ chức, doanh nghiệp (DN) của chúng ta chưa xây dựng được nếp văn hóa này cho cán bộ, NV của mình. Vì thế, việc xây dựng nếp văn hóa trách nhiệm là việc làm trước tiên và lâu dài của bất kỳ một tổ chức nào.

Nếu Văn phòng Quốc hội tổ chức một hệ thống LVTX cho các đại biểu quốc hội và đại biểu quốc hội phải có kỹ năng CNTT đủ để có thể LVTX, thì có thể giải quyết được nhiều mong muốn của người dân nhanh chóng hơn hiện nay! Vai trò của người đứng đầu,người quản lý rất quan trọng. Họ phải lập kế hoạch, phân công trách nhiệm, giao việc cho NV và có lòng tin vào NV của mình; quản lý NV theo kết quả công việc là chính chứ không quản lý theo ngày công, theo sự có mặt ở nơi làm việc.

Mỹ, Nhật đã có những nghiên cứu vấn đề này. Trên tạp chí Applied Psychology (Tâm lý học ứng dụng) có bài viết chỉ ra rằng những người LVTX thì có năng suất cao và ít bị căng thẳng. Một tài liệu nghiên cứu khác cho biết số người làm việc tại nhà ở Mỹ lên tới gần 40 triệu trong những năm vừa qua.

Ở nước ta, những năm chiến tranh cũng đã có những CQ cho cán bộ NV làm việc tại nhà và đánh giá cán bộ theo kết quả công việc. Ngày nay, làm việc tại nhà là làm việc trong một mạng máy tính có sự kiểm soát của người quản lý. Vì thế, CQ cần đầu tư trang bị, phương tiện làm việc như: MT, mạng MT, những thiết bị văn phòng khác (có dây và không dây), những phần mềm văn phòng, phần mềm LVTX, họp từ xa, bảo mật và an toàn thông tin.

Những công nghệ mới trong lĩnh vực CNTT xuất hiện ngày càng nhiều đảm bảo cho LVTX có hiệu quả hơn. Công nghệ hội họp cũng là một công nghệ cần quan tâm trong LVTX và nhiều hãng cũng đã có sản phẩm cho việc này, được gọi là hiện diện trực tuyến, như của: Cisco Systems,Hewlett Packard,Teleris, Polycom …

LVTX thế nào?

Không phải đơn giản ai muốn LVTX là được LVTX. Muốn LVTX hiệu quả phải có sự chuẩn bị, tổ chức trang bị kỹ năng LVTX cho NV. Vấn đề mấu chốt vẫn là: có dám đổi mới hay không? Ai có thể làm việc tại nhà? Về nguyên tắc, là bất cứ ai, nhưng không phải cùng một lúc cho mọi NV. Các lĩnh vực hoạt động như nghiên cứu khoa học, tiếp thị, công nghệ PM, thiết kế… nhiều khả năng LVTX hiệu quả. Về hành chính, cũng có những việc thích hợp để LVTX.

Đối với một tổ chức, muốn làm việc tại nhà có hiệu quả, người đứng đầu phải xác định được việc gì và ai được LVTX, quy trình làm việc đó như thế nào, cách kiểm tra,theo rõi kết quả và thực hiện bảo mật thông tin ra sao? Về lượng thời gian, tùy thuộc vào tính chất công việc: một tuần, một, hai ngày hoặc cả tuần. Điều đó phụ thuộc kế hoạch của người đứng đầu xuyên suốt cho từng cá nhân lao động.

Người đứng đầu phải vươn lên để hiểu được PM và các công cụ mà NV LVTX sử dụng trong các hoạt động hàng ngày, hiểu được những rủi ro bảo mật có liên quan đến việc cho phép khai thác dữ liệu của tổ chức. Họ phải hiểu biết về công nghệ của phương thức LVTX mà lớp công nghệ đầu tiên là VPN (Virtual Private Network, mạng riêng ảo). Nói tóm lại, cần có một cuộc cách mạng về phương thức LVTX.

Nhưng muốn đảm bảo cho phương thức này đạt hiệu quả, phải có sự đổi mới phong cách QL. Tổ chức QL cần yêu cầu mọi NV trong tổ chức đều có một khoảng thời gian LVTX, kể cả chính người đứng đầu. Mọi người đều được công bằng trong một khung chính sách chung. Phải làm sao để mọi NV LVTX đều có nhận thức và cách làm phù hợp nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đặt ra. Đã có những công nghệ giúp thực hiện việc quản lý LVTX thuận lợi hơn như: PM giúp xây dựng website bảo mật dùng riêng cho NV và nhà QL.

Giảm “Áp lực công sở”
Đã có những công ty tổ chức LVTX hiệu quả như: công ty Tài Chính Capital One (Mỹ) với chương trình “Tương lai công việc” (FOW: Future of Work). Chương trình này được tiến hành thử nghiệm (với quy mô lớn) ở bộ phận của công ty đặt tại Richmond và McLean, bang Virginia, Mỹ. Chương trình này kết hợp nhiều môi trường văn phòng khác nhau, với tính linh hoạt cao và coi trọng các công nghệ di động. Kết quả cho thấy, hiệu quả công việc tự động tăng lên, giúp cho Capital One giảm chi phí hoạt động. Chương trình này đã xây dựng, sau khi được cân nhắc rất thận trọng, phương pháp Capital One áp dụng để thay đổi cách QL vừa sáng tạo vừa hiệu quả trên diện rộng (theo Harvard Business School Publishing).
Nhật cũng đã tiến hành thử nghiệm phương thức LVTX qua mạng cho 20% lực lượng lao động với hy vọng phần nào đó giảm được hội chứng trầm cảm do “Áp lực công sở” gây ra.
Nhiều nơi khẳng định, nếu có chế độ thời gian làm việc linh hoạt, LVTX sẽ thu được nhiều kết quả quan trọng: khả năng thu hút và giữ chân được nhân tài tốt hơn, sản lượng và hiệu quả cao hơn, chức năng của các nhóm làm việc được cải thiện hợp lý hơn. LVTX là một biện pháp hiệu quả để tạo sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc. Năm 2000, hãng AT&T (Mỹ) áp dụng LVTX và đã rút ra kết luận là NV LVTX đầu tư nhiều thời gian hơn, năng suất cao hơn, trung thành hơn và hài lòng hơn với công việc của mình. 2/3 nhà QL của hãng này cho rằng chính sách LVTX giúp cho công việc được duy trì tốt hơn và việc thu hút NV trở nên dễ dàng hơn. Công ty IBM ở Ấn Độ đã có một giải pháp hiệu quả cho LVTX, công ty chịu chi phí kết nối Internet tại nhà, sử dụng công nghệ wifi cho NV.
Vài năm gần đây, tại nước ta, việc cải cách hành chính cũng đang được ráo riết thực hiện, trong đó nhiều cơ quan đã áp dụng hành chính từ xa như thí điểm nộp hồ sơ khai thuế qua mạng, thủ tục hải quan điện tử… Về phía doanh nghiệp, có loại hình kinh doanh mới là cho thuê văn phòng, người ta gọi là văn phòng ảo, đầy đủ phương tiện, thiết bị có thể đảm bảo cho LVTX hiệu quả.

Hello world!

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!